Tìm hiểu về lịch sử tiền tệ

GEN A EDUCATION

Bài viết này của MoneyTree sẽ giới thiệu khái quát tổng thể về nguồn gốc, lịch sử tiền tệ cũng như bản chất, giá trị của nó trong cuộc sống thường ngày.

Tiền là thứ mà con người chúng ta sử dụng nhiều nhất hằng ngày, ai cũng mong ước có nhiều tiền, nhưng liệu chúng ta đã thực sự hiểu rõ về thứ vật chất quý gia này chưa?
Lich su cua tien te

Định nghĩa về tiền

Có thể nói tiền là một trong những phát minh vĩ đại và quan trọng nhất trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tiền đã phát triển qua nhiều giai đoạn và hình thức khác nhau. Có rất nhiều cách hiểu về tiền, nhưng MoneyTreexin đưa ra khái niệm, định nghĩa chung nhất về tiền:

Tiền được định nghĩa là vật ngang giá chung, có tính thanh khoản cao nhất, dùng để trao đổi lấy hàng hóa, dịch vụ, nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ… Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ.

Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ

Nguon goc cua tien

 Nguồn gốc của tiền

Tiền ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển, nguồn gốc của tiền tệ bắt nguồn từ sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hình thái đơn giản đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ.

Theo nhà triết học lỗi lạc K.Marx, tiền tệ là một thứ sản phẩm tự phát, tự nhiên của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi nghiên cứu về tiền Mark viết: “Tiền là một vật được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi. Có thể hiểu rằng nguồn gốc đưa đến sự ra đời, phát triển của tiền là sự ra đời, phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Khi nền sản xuất phát triển ở một bước cao hơn, hàng hóa ngày càng nhiều, nhu cầu trao đổi của con người cũng nhiều hơn, lúc này việc đổi hàng lấy hàng gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: Một người làm ra vải nhưng cần lúa, nhưng người có lúa họ không cần vải mà họ cần rìu, việc này buộc người có vải phải đổi vải ra rìu, rồi lấy rìu để đổi ra lúa,..quá trình này lòng vòng và phức tạp. Chính từ đây người ta đã nghĩ đến việc tìm những vật làm trung gian cho những trao đổi đó, vật này được gọi là vật ngang giá chung.

Lịch sử đã ghi nhận sự phát triển của hình thái giá trị qua bốn giai đoạn:

Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:

Là hình thái phôi thai của giá trị, hình thái này xuất hiện ở giai đoạn đầu của hoạt động trao đổi hàng hóa, lúc này trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, con người trao đổi trực tiếp vật này với vật khác.

Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc, khi này giá trị của vải được biểu hiện ở thóc, còn thóc là phương tiện biểu hiện giá trị của vải, thóc trở thành hiện thân, phản ánh giá trị của vải.

– Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:

Khi xã hội có sự phát triển, lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, hàng hóa nhiều hơn, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hoá này có thể quan hệ với nhiều hàng hoá khác. Tương ứng với giai đoạn phát triển này là hình thái đầy đủ hay mở rộng.

Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc hoặc 1 cái rìu hay 1 chỉ vàng,.. Ở đây chúng ta thấy giá trị của 1m vải được biểu hiện không chỉ ở 5 kg thóc, mà còn biểu hiện thông qua 1 cái rìu hoặc 1 chỉ vàng. Có thể thấy, hình thái vật ngang giá lúc này đã được mở rộng ở nhiều loại hàng hóa khác nhau. Nhưng về cơ bản vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi cũng chưa cố định.

– Hình thái chung của giá trị: Khi một hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung để thể hiện giá trị của tất cả các hàng hoá khác.

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển ở một mức độ cao hơn, hàng hóa nhiều hơn, được đưa ra trao đổi thường xuyên. Quá trình trao đổi đó trở nên phức tạp, lòng vòng, người có vải muốn đổi lấy thóc, nhưng người có thóc không cần vải mà cần thứ khác. Vì vậy việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi. Trong tình hình đó, người ta phải đi con đường vòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần. Khi vật trung gian trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hoá được nhiều người ưa chuộng, thì hình thái chung của giá trị xuất hiện.

Ví dụ: 5 kg thóc hoặc 1 con gà = 1m vải

Ở đây, tất cả các hàng hoá đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung. Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hoá nào. Các địa phương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau.

Hình thái tiền tệ:

Khi xã hội loài người phát triển ở mức độ cao hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường mở rộng hơn, tình trạng có nhiều vật ngang giá chung không còn phù hợp. Do đó đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất, có giá trị. Lúc này vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến, thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị.

Ví dụ: 5 kg thóc, 5m vải = 2 chỉ vàng, khi này vàng trở thành vật ngang giá chung, vàng đóng vai trò là tiền tệ, thể hiện giá trị của 5kg thóc và 5m vải.

Lịch sử ghi nhận đã có nhiều loại hàng hóa đã từng được sử dụng để làm vật ngang giá chung như: gia súc, đồng, bạc, vàng… Tuy nhiên, mỗi loại hàng hóa này đều có một số thuận lợi và bất lợi riêng khi làm phương tiện trao đổi – vật ngang giá chung. Cuối cùng, vật ngang giá chung bằng hàng hóa chỉ được hạn chế trong kim loại quý vì dễ vận chuyển hơn, trong đó chủ yếu là vàng.. Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do nó có những ưu điểm như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng và thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn.

Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá, khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hoá được phân thành hai cực: một bên là các hàng hoá thông thường; một bên là hàng hoá (vàng) đóng vai trò tiền tệ. Đến đây giá trị các hàng hoá đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất. Tỷ lệ trao đổi được cố định lại.

Bản chất của tiền

Bản chất của tiền tệ nó là một hàng hóa đặc biệt, được tách ra từ trong thế giới hàng hóa, làm vật ngang giá chung cho mọi hàng hóa đem ra trao đổi. Tiền thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.

Vai trò, chức năng của tiền

Tiền có giá trị quan trọng với cuộc sống con người, nó không phải là tất cả nhưng hầu hết mọi thứ đều liên quan đến tiền. Tiền tương đương với lựa chọn, tức là có nhiều tiền chúng ta sẽ có nhiều lựa chọn tốt hơn.

Giá trị quan trọng của tiền được biểu hiện thông qua 3 chức năng sau:

Tiền là vật trung gian trao đổi:

Tiền được chấp nhận sử dụng rộng rãi như một vật trung gian trao đổi, cho phép chúng ta sử dụng tiền để trao đổi hàng hóa mà chúng ta cần và muốn. Tiền được coi như một phương tiện thanh toán chung cho các loại hàng hóa. Phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất của tiền Nếu không có chức năng này thì tiền sẽ không còn.

Ví dụ: 50.000đ = 1m vải hoặc 1 chiếc áo,..lúc này tiền là vật trao đổi chung cho mọi hàng hóa

 Tiền có chức năng dự trữ giá trị

Làm chức năng này tức là tiền rút khỏi lưu thông, giá trị của tiền có thể được dự trữ, duy trì qua một thời gian dài.

Ví dụ: 50.000đ ở thời điểm hiện tại, vẫn có giá trị tương đương 50.000đ trong tương lai.

Tiền có chức năng là đơn vị tính toán

Tiền cho phép con người định lượng và gán các giá trị cho các mặt hàng. Giá trị của mỗi loại hàng hóa đều được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định. Nếu không có tiền, việc trao đổi sẽ trở nên khó khăn hơn, như việc phải lấy hàng đổi hàng và trao đổi lòng vòng khi không có tiền.

Việc đo giá trị hàng hoá dịch vụ bằng tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng cân và đo khoảng cách bằng mét. Tiền là một thước đo được sử dụng phổ biến trong các quan hệ xã hội. Nhờ chức năng này mà tính chất tiền tệ hoá ngày càng phổ biến trong đo lường sự phát triển của xã hội, đo lường mức sống của con người…Nó đã tạo ra một nền kinh tế mang tính chất tiền tệ.

Tìm hiểu về lịch sử tiền tệ 3.50/5 (70.00%) 2 votes
Đăng ký học thử Miễn phí
Tại sao chọn MoneyTree?
  • Cam kết đầu ra rõ ràng với mục tiêu rèn luyện thói quen tiết kiệm và chi tiêu hợp lý, kỹ năng quản lý tài chính cá nhân và tư duy kinh doanh
  • Phương pháp giảng dạy độc đáo, vui vẻ, dễ hiểu và HOÀN TOÀN KHÔNG có áp lực.
  • Đối tác của chương trình MoneyTree - hệ thống giáo dục tài chính cho trẻ em hàng đầu Châu Á, được chứng nhận bởi Viện Giáo dục Quốc gia Singapore (NIE), Đại học Delaware (Hoa Kỳ) và Đại học Mở Malaysia. MoneyTree được giảng dạy tại 8 quốc gia, với hơn 63.000 học sinh theo học thường xuyên. 
Bài viết liên quan